Xem thêm

Tổng hợp các loài cá nước ngọt phổ biến tại Việt Nam bạn nên biết

Cá nước ngọt là những loài cá sống chủ yếu trong môi trường nước ngọt như sông và hồ, có độ mặn ít hơn 0.05%. Môi trường sống này khác biệt rất nhiều so với...

Cá nước ngọt là những loài cá sống chủ yếu trong môi trường nước ngọt như sông và hồ, có độ mặn ít hơn 0.05%. Môi trường sống này khác biệt rất nhiều so với môi trường biển, đặc biệt là độ mặn của nước. Để tồn tại trong môi trường nước ngọt, cá cần phải có sự thích ứng sinh lý học.

Khoảng 41.24% các loài cá được tìm thấy trong môi trường nước ngọt. Điều này chủ yếu do sự biệt hóa làm phân tán môi trường sống. Khi xử lý các hồ và ao nước, người ta có thể dùng các mô hình cơ bản giống nhau cho sự biệt hóa khi nghiên cứu địa lý sinh vật đảo.

Cá nước ngọt là cá gì?

Cá nước ngọt là cá sống gần như toàn bộ cuộc đời của mình trong môi trường nước ngọt như hồ và sông, có độ mặn ít hơn 0.05%. Có khoảng 41.24% các loài cá được tìm thấy trong môi trường nước ngọt, cho thấy sự biệt hóa đã phân tán môi trường sống của chúng. Điều này cũng cần sự thích ứng sinh lý học như khả năng khuếch tán các khí hòa tan mà vẫn giữ natri trong cơ thể.

Vảy của cá nước ngọt có chức năng giảm sự khuếch tán nước qua da, do đó cá rất dễ chết nếu mất nhiều vảy. Bộ phận thận của cá nước ngọt phát triển rất tốt để hấp thụ muối từ dịch cơ thể trước khi bị bài tiết.

Các loại cá nước ngọt ở Việt Nam

Dưới đây là một số loại cá nước ngọt ở Việt Nam mà bạn nên biết và có thể chọn dùng trong bữa ăn hằng ngày:

Cá trích

Cá trích Caption: Cá trích

Cá trích, tên khoa học là Sardinella, thuộc họ Cá trích (Clupeidae). Cá trích có hình dạng khá giống với cá mai nhưng to hơn, thân dài, xương nhỏ, lớp da màu hơi xanh và hai hàm bằng nhau. Răng của cá trích nhỏ, vảy tròn mỏng thường dễ rụng và có răng cưa ở phần sống bụng.

Cá trích thường sống ở tầng nước mặt, bơi khá nhanh do có khúc đuôi khỏe. Theo thông tin ghi chép, cá trích thuộc nhóm cá xương có thân nhỏ, tồn tại được sau thảm họa tuyệt chủng vào cuối kỷ Phấn trắng nên chúng vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay.

Ở Việt Nam, người dân gọi cá trích với tên gọi riêng theo hình dạng chúng được đánh bắt. Cụ thể, cá trích ve thường có mình lép, nhiều vảy trắng xanh, nhất là phần thịt của chúng trắng, béo và thơm nhưng lại có nhiều xương. Trong khi cá trích lầm có thân tròn, ít vảy và phần thịt của chúng màu đỏ, có nhiều nhưng không thơm ngon bằng cá trích ve. Ngoài ra, người dân vùng biển sống từ khu vực miền Trung thường gọi cá trích nhỏ là cá de, lớn hơn thì nó cũng được gọi là cá Mắt Tráo.

Cá chép

Cá chép Caption: Cá chép

Cá chép, tên khoa học là Cyprinus carpio, thuộc họ Cá chép (Cyprinidae). Cá chép có hình dạng giống cá vàng, có nhiều giống khác nhau như cá chép kính, cá chép nhiều vảy và cá chép da.

Cá thát lát

Cá thát lát Caption: Cá thát lát

Cá thát lát, tên khoa học là Notopterus notopterus, thuộc họ Cá thát lát (Notopteridae). Chúng có thân dài, dẹt và vảy nhỏ phủ toàn bộ thân cá. Miệng khá to và có mõm ngắn. Cá thát lát có màu xám ở lưng và màu trắng bạc ở phần bụng, trong khi màu vàng ở dưới viền xương nắp mang.

Cá thát lát thường sống ở sông Đồng Nai, các vùng đồng bằng sông Cửu Long, và Tây Nguyên. Cá thát lát có tốc độ sinh trưởng tốt nên sản lượng nhiều.

Cá chạch

Cá chạch Caption: Cá chạch

Cá chạch thuộc lớp Cá vây tia (Actinopterygii). Cá chạch có hình dạng khá giống con lươn, mình dài với nhiều sợi tua và râu thịt phát triển ở xung quanh bộ phận miệng. Cá chạch thường phân bố ở khu vực tây bắc châu Phi, châu Á và châu Âu.

Cá nheo

Cá nheo Caption: Cá nheo

Cá nheo thuộc bộ Cá nheo (Siluriformes), sống tự nhiên trong môi trường ở đầm, ao, sông và hồ ở Việt Nam. Họ Cá nheo có khoảng 100 loài sống trong môi trường nước ngọt thuộc khu vực miền đông châu Âu và châu Á, trừ bán đảo Ả Rập và Siberi.

Cá nheo có lớp da trơn, không có vảy nhưng có vây nhỏ và vây hậu môn cũng khá dài. Đầu cá hơi bẹp, miệng rộng và có hai râu dài ở hàm trên và bốn râu ngắn ở hàm dưới. Chiều dài của cá nheo dao động từ 8cm - 3m, tùy loài.

Cá trê

Cá trê Caption: Cá trê

Cá trê hoặc họ Cá trê nói chung có tên khoa học là Clariidae, gồm khoảng 114 loài cá trê sống trong môi trường nước ngọt. Phần lớn, cá trê sống ở khu vực Đông Nam Á nhưng loài đa dạng nhất là ở châu Phi.

Mỗi loại cá trê có đặc điểm hình dạng khác nhau. Chẳng hạn, cá trê đen (còn gọi là cá trê Hồng Kông) có thân đen dài, lớp da nhẵn bóng; phần đầu dẹt bằng, trong khi phần thân và đuôi có xu hướng dẹt bên; miệng rộng, răng sắc nhọn cùng với bốn đôi râu dài; mắt nhỏ và lỗ mũi cách xa nhau.

Hoặc cá trê vàng xám có đầu dẹp, thân tròn thon dài và dẹp dần về phía đuôi, da trơn nhẵn và vây màu đen có đốm thẫm; mắt nhỏ, khoảng cách 2 mắt rộng, miệng to và có bốn đôi râu dài.

Cá ngát

Cá ngát Caption: Cá ngát

Cá ngát có tên khoa học là Plotosus canius, thuộc họ Cá da trơn (Plotosidae). Cá ngát có thể sống ở môi trường nước ngọt lẫn nước lợ và thường sinh sản từ tháng 6 - 8 hàng năm.

Hình dạng của cá ngát khá giống với cá trê nhưng có kích thước lớn và nhiều râu hơn, không có vây béo. Đuôi cá ngát kéo dài và nhọn. Một số loài cá ngát có nọc độc từ gai nên khi ăn cần phải sơ chế kĩ.

Cá tra

Cá tra Caption: Cá tra

Cá tra thuộc bộ Cá da trơn (Siluriformes), sống ở vùng nước ngọt và lợ, phân bố dọc theo miền nam châu Á. Cá tra có thân hình chắc chắn, không vảy, và không có ngạnh. Vây lưng nằm gần đầu, hình tam giác và có 5 - 7 tia vây cùng với 1 - 2 gai.

Ở Việt Nam, cá tra phân bố chủ yếu ở lưu vực sông Cửu Long và lưu vực sông ở miền nam đất nước. Chúng có thân dẹp, da trơn và có râu ngắn.

Cá lăng

Cá lăng Caption: Cá lăng

Cá lăng thuộc họ Cá da trơn, có khoảng 245 loài, sống được cả môi trường nước ngọt và nước lợ, phía dưới tầng đáy hoặc khu vực nhiều bùn nhiều phù sa với dòng nước chảy chậm.

Cá lăng có kích thước tương đối lớn, dài đến 1.5m và nặng từ 10 - 30kg. Thân cá thuôn dài, không có vảy, có vây lưng một gai ở phía trước và vây ức có răng cưa. Đầu hơi bẹt kèm với bốn cặp râu khá dài.

Cá đù

Cá đù Caption: Cá đù

Cá đù thuộc bộ Cá Vược (Perciformes), có khoảng 270 loài, trong đó có đến 20 loài phổ biến nhất là cá đù bạc.

Thân cá đù có hình bầu dục dài, hơi bẹt bên, đầu to và răng nhỏ. Vây lưng chia thành 2 đoạn: đoạn trước là tia gai cứng và đoạn sau là vây mềm. Thịt cá đù nhiều, ít xương, béo và nhiều mỡ ở phần thân sau của cá. Vị ngọt dịu và để lại hậu bùi sau khi ăn.

Cá hường

Cá hường Caption: Cá hường

Cá hường, tên khoa học là Helostoma temminckii, còn gọi là cá mùi, thuộc họ Cá hường (Helostomatidae). Chúng sống chủ yếu trong môi trường nước ngọt, ngay cả môi trường nước khắc nghiệt và nhiễm bẩn nhờ có cơ quan hô hấp phụ. Ở Việt Nam, cá hường phân bố nhiều ở Đồng bằng sông Cửu Long.

Kích thước cá hường nhỏ, có xương hơi nhiều. Thịt cá trắng, ít khi bị tanh, mềm và rất ngon.

Cá rô đồng

Cá rô đồng Caption: Cá rô đồng

Cá rô đồng có tên khoa học là Anabas testudineus, thuộc họ Cá rô đồng và sống được trong môi trường nước ngọt và nước lợ như ruộng, ao, đầm, mương rẫy,...

Chúng có màu xanh cho đến màu xám nhạt, trong đó phần bụng có màu sáng hơn phần lưng. Các gờ của vảy và vây có màu sáng. Nắp mang cá hình răng cưa, răng chắc và sắc, xếp thành dẫy trên hai hàm. Kích thước có thể dài đến 250mm. Con cá rô đực thường có thân hình thon dài hơn con cái.

Thịt cá rô đồng thơm, dai và hơi béo nhưng lại có nhiều xương.

Cá rô phi

Cá rô phi Caption: Cá rô phi

Cá rô phi thuộc họ Cichlidae, có nhiều chủng loại, sống chủ yếu ở kênh rạch, sông suối và ao hồ. Trong đó, phổ biến nhất là cá rô phi đỏ, cá rô phi vằn và cá rô phi xanh. Chúng có thể sống trong môi trường nước ngọt, nước lợ và nước phèn nhẹ.

Thân cá rô phi có màu hơi tím cùng với vảy sáng bóng, xuất hiện 9 - 12 sọc đậm chạy song song từ lưng xuống bụng. Chiều dài có thể tới 0.6m và nặng khoảng 4kg, cá rô phi đực có tốc độ lớn nhanh hơn so với con cái.

Cá sặc

Cá sặc Caption: Cá sặc

Cá sặc rằn có tên khoa học là Trichogaster pectoralis, thuộc họ Cá tai tượng (Osphronemidae), còn gọi là cá rô tía Xiêm, cá lò tho hoặc ca rô da rắn. Ở nước ta, chúng chủ yếu sống tại khu vực miền Nam như Kiên Giang và Cà Mau.

Thân cá dẹt và dài. Vây ngực dài, vây lưng tròn đối với con cái nhưng lại dài đối với con đực, và vây bụng như sợi chỉ và rất nhạy cảm.

Ngoài ra, cá sặc đực có màu sắc bắt mắt hơn so với con cái, có màu ánh sang màu vàng nâu.

Cá tai tượng

Cá tai tượng Caption: Cá tai tượng

Cá tai tượng có tên khoa học là Osphronemus goramy, thuộc họ Cá tai tượng (Osphronemidae). Tại Việt Nam, chúng sống chủ yếu ở khu vực sông Đồng Nai và La Ngà, có thể thích nghi trong điều kiện khắc nghiệt trong môi trường nước ngọt lẫn nước lợ.

Thân cá tai tượng dẹt bên, có chiều dài gấp đôi so với chiều cao của nó. Miệng khá rộng, mõm nhọn và vây lưng dài cùng với tia vây mềm.

1